THÀNH PHẦN, MẬT ĐỘ VÀ SỰ PHÂN BỐ TRỨNG CÁ VÀ CÁ BỘT VÙNG ĐẦM THỊ NẠI, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Võ Văn Quang, Trần Thị Lê Vân, Nguyễn Thị Thanh Thủy
Author affiliations

Authors

  • Võ Văn Quang Viện Hải dương học
  • Trần Thị Lê Vân Viện Hải dương học
  • Nguyễn Thị Thanh Thủy Viện Hải dương học

DOI:

https://doi.org/10.15625/1859-3097/12/1/870

Abstract

Kết quả của bài báo là một phần nội dung của nhiệm vụ độc lập cấp nhà nước “Nghiên cứu cơ sở khoa học nhằm xây dựng các giải pháp phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững tại đầm Thị Nại, tỉnh Bình Định” do Viện Hải dương học chủ trì giai đoạn 2008-2010. Kết quả hai chuyến khảo sát vào mùa mưa (11/2008) và mùa khô (4/2009) với 18 trạm thu mẫu ở đầm Thị Nại đã thu được 20.588 trứng và 4.458 cá bột. Mật độ trung bình vào mùa mưa (11/2008) là 3,58 trứng và 49,34 cá bột/100m3; vào mùa khô (4/2009) là 951,38 trứng và 75,54 cá bột/100m3, cao hơn nhiều so với mùa mưa. Có sự khác biệt rõ nét về mật độ trứng cá và cá bột giữa các khu vực nghiên cứu và thời gian khảo sát. Vùng tập trung của trứng cá và cá bột là xung quanh cồn Chim ở giữa đầm và khu vực gần cửa đầm; mùa khô (4/2009) có nhiều loài cá đẻ hơn so với mùa mưa (11/2008). Thành phần trứng cá và cá bột gồm 30 họ thuộc 10 bộ, trong đó trứng cá thuộc họ cá mối (Synodontidae), giống cá cơm trổng (Stolephorus), cá cơm (Encrasicholina) và họ cá trích (Clupeidae) là xác định được, chiếm 13%, riêng họ cá mối chiếm 12,5%. Cá bột có 29 họ, họ cá bống (Gobiidae) chiếm ưu thế 81,58%, tiếp theo là họ cá trích (Clupeidae) chiếm 4,08%, họ cá lon (Blennidae) chiếm 3,68%, giống cá sơn biển (Ambasis sp) chiếm 1,35%. Các họ cá khác mỗi loại chiếm tỉ lệ dưới 1%.

 

Summary: The paper presented as a part of the results belonging to the national independent project “Studying on scientific fundamentals for formulating solutions on sustainable aquaculture development at Thi Nai lagoon, Binh Dinh province” carried out by Institute of Oceanography during 2008-2010. The results of two surveys during the rainy season (11/2008) and dry season (4/2009) with 18 stations within Thi Nai lagoon collected 20588 fish eggs and 4458 fish larvae. The average densities on the rainy season (11/2008) were 3.58 fish eggs and 49.34 fish larvae/100m3; the average densities on the dry season (4/2009) were 951.38 fish eggs and 75.54 fish larvae/100m3, which were much higher than those on the rainy season. There was distinct difference in densities of the fish eggs and larvae according to the surveyed areas and seasons. The high densities of fish eggs and fish larvae were observed at Chim hillock surrounding the center and nearby the mouth of the lagoon; more fish species bred during dry season (4/2009) compared to that during rainy season (11/2008). The composition of fish eggs and larvae included 30 families belonging to 10 orders, in which the fish eggs belonging to Synodontidae, Stolephorus, Encrasicholina and Clupeidae were identified, corresponding to 13%, in which Synodontidae 12.5%. Fish larvae included 29 families, in which Gobiidae 81.58%, followed by Clupeidae 4.08%, Blennidae 3.68%, Ambasis sp 1.35%. Other families, each of them below 1%.

Downloads

Download data is not yet available.

Metrics

Metrics Loading ...

Downloads

Published

30-06-2012

How to Cite

Quang, V. V., Vân, T. T. L., & Thủy, N. T. T. (2012). THÀNH PHẦN, MẬT ĐỘ VÀ SỰ PHÂN BỐ TRỨNG CÁ VÀ CÁ BỘT VÙNG ĐẦM THỊ NẠI, TỈNH BÌNH ĐỊNH. Vietnam Journal of Marine Science and Technology, 12(1), 77–86. https://doi.org/10.15625/1859-3097/12/1/870

Issue

Section

Articles