New species of freshwater snails of Stenothyra (Stenothyridae - Mesogastropoda) from Vietnam

Dang Ngoc Thanh, Ho Thanh Hai

Abstract


Thời gian qua, trong số vật mẫu thu được ở một số địa điểm như ở sông Cái Lớn ở vùng đồng bằng thấp gần biển thuộc địa phận tỉnh Kiên Giang, Nam Bộ Việt Nam, ở vùng cửa sông Hồng tại Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định, có một số vật mẫu thuộc họ ốc Stenothyridae. Các kết quả phân tích vật mẫu đã xác định đây là 3 loài mới thuộc 1 giống duy nhất Stenothyra của họ ốc này. Sau đây là mô tả các loài ốc mới đó.
1. Stenothyra ovata Dang et Ho, sp. nov. (hình 1)
Holotype: 1 mẫu vật (H: 6,2 mm; l:4,2; V; 5,3; Lo:1,9; lo2,1), Paratyp: 2 mẫu vật, thu được tại sông Cái Lớn thuộc hệ thống sông Mekong ở tỉnh Kiên Giang, Nam Bộ Việt Nam, cách vùng cửa sông tại TP. Rạch Giá khoảng 30 km. Lưu giữ tại Bộ sưu tập, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Hà Nội, Việt Nam.
Chẩn loại: Vỏ kích thước lớn, dày, chắc, đỉnh tày, tháp ốc rất ngắn, chỉ bằng 1/5 chiều cao vỏ, vòng xoắn cuối phình rộng, dẹp theo hướng lưng-bụng. Vỏ gần hình bàu dục, có các đốm màu nâu vàng tới nâu, mặt vỏ có những đường xoắn khá đều đặn với những nốt hõm sâu. Lỗ miệng gần bàu dục, nằm nông, phần gốc mép ngoài vành miệng kéo dài xuống phía dưới thành mấu tròn đầu. Lỗ rốn thành rãnh hẹp, rõ.
Mô tả: ốc có kích thước khá lớn so với các loài trong giống, vỏ gần hình trứng, phình ở giữa, vỏ dày, chắc, giống như sừng, đỉnh tày, bị gặm mòn. Tháp ốc rất ngắn, chỉ dài bằng 1/5 chiều cao vỏ.
Đỉnh vỏ bị gặm mòn, chỉ thấy 3-4 vòng xoắn. Vòng xoắn cuối cao, phình to, dẹp theo lưng-bụng. Chiều cao vòng xoắn cuối tới 4/5 chiều cao vỏ. Mặt vỏ có các đốm màu nâu vàng tới nâu, chỉ có các đường chỉ xoắn với những nốt nhỏ, thấy rõ hơn so với loài Stenothyra polita. Có 10 đường ở vòng xoắn áp cuối, 12 đường ở vòng xoắn cuối, 8-9 đường ngắn ở phần gốc trái vành miệng, gần lỗ rốn. Phần cuối của vòng xoắn cuối bẹp lại thành dạng mặt phẳng, ở gữa là lỗ miệng. Nhìn từ mặt sau vỏ, vòng xoắn cuối thắt lại và tạo thành gờ sống ở phía dưới. Nhìn từ mặt trước, phần gốc mép ngoài vành miệng kéo dài xuống phía dưới thành mỏ tròn đầu.
Lỗ miệng gần bàu dục, mỏ nằm hơi xiên. Vành miệng dày, liên tục. Lỗ rốn hình rãnh hẹp, rõ. Nắp miệng dày, gần tròn, ít vòng xoắn, nhân lệch tâm.
Kích thước:    H: 6,0-6,2; l: 4,0-4,2; V: 4,8-5,3; Lo: 1,6-2,0; lo: 2,1-2,2.
Sinh học, sinh thái: Sống vùi trong bùn, ăn mùn bã hữu cơ mục nát ở ven bờ các sông, lạch nước ngọt, lợ vùng đồng bằng gần biển.
Nhận xét: Loài mới này có những đặc điểm giống với các loài Stenothyra polita và S. prasongi (loài mới thấy ở Thái Lan) ở kích thước lớn 6-trên 7 mm; vỏ dày chắc; mặt vỏ có các đường chỉ xoắn với nốt hõm; đặc biệt cấu tạo và hình thái lỗ miệng, vành quanh miệng ở góc dưới phát triển thành hình mấu tròn đầu, và sinh cảnh sống cũng là vùng nước ngọt, lợ gần cửa sông. Tuy nhiên, giữa hai loài này vẫn có những khác biệt cơ bản.

2. Stenothyra conica Dang et Ho, sp. nov. (hình 2)
Holotype: 1 mẫu vật (H: 2,6; l: 1,4; V; 2,0; Lo: 0,6; lo 0,9). Paratyp: 1 mẫu vật, thu được tại sông Cái Lớn thuộc hệ thống sông Mekong ở tỉnh Kiên Giang, Nam Bộ Việt Nam, cách vùng cửa sông tại TP. Rạch Giá khoảng 30 km. Lưu giữ tại Bộ sưu tập, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Hà Nội, Việt Nam.
Chẩn loại: Vỏ có kích thước khá nhỏ, mỏng, trong, dáng hình côn, đỉnh tày, tháp ốc ngắn, chỉ bằng 1/4 chiều cao vỏ. Có 3-4 vòng xoắn, vòng xoắn cuối phình rộng, phần bụng hơi dẹt. Vỏ nhẵn, chỉ có các chấm sắc tố đậm nhỏ và đường xiên mờ. Vỏ có màu vàng nâu, trong. Lỗ miệng hình trứng, hơi tạo thành góc ở trên phải.
Mô tả: ốc có kích thước rất nhỏ so với các loài trong giống, vỏ dáng hình côn, mỏng, trong, đỉnh tày, thường bị gặm mòn. Tháp ốc ngắn, dài bằng 1/4 chiều cao vỏ.
Có 3-4 vòng xoắn, rãnh xoắn sâu, thấy rõ. Vòng xoắn phồng, vòng xoắn cuối phình rộng, phần bụng hơi dẹt, chiều rộng 1,4 mm, chiều cao 2,0 mm bằng khoảng 3/4 chiều cao vỏ. Mặt vỏ nhẵn, màu vàng nâu sáng, điểm các sắc tố đậm, có các đường xiên mờ.
Lỗ miệng hình trứng, vành miệng sắc, liên tục, hơi tạo thành góc ở phía trên phải. Lỗ rốn thành khe hẹp, rõ. Nắp miệng mỏng, hình trứng, ít vòng xoắn, nhân lệch tâm.
Kích thước: H: 2,1-2,6 mm; l: 1,2-1,4 mm; V: 1,7-2,0 mm; Lo: 0,5-0,6 mm; lo: 0,8-1,0 mm.
Sinh học, sinh thái: Sống vùi trong bùn, ăn mùn bã hữu cơ mục nát ở ven bờ các sông, lạch nước ngọt, lợ vùng đồng bằng gần biển.
Nhận xét: Loài ốc mới này có các nét khác hẳn với những loài khác trong giống cùng phân bố ở vùng nước ngọt, lợ nhạt gần biển ở Việt Nam ở chỗ kích thước rất nhỏ, hình côn, lỗ miệng hình trứng, hơi tạo thành góc trên phải. Vỏ mỏng, màu vàng nâu trong, tháp ốc ngắn chỉ bàng 1/4 chiều cao vỏ.
3. Stenothyra alba Dang et Ho, sp. nov. (hình 3)
Holotype: 1 mẫu vật (H: 2,5; l. 1,5; V; 1,9; Lo: 0,5; lo 0,7). Paratyp: 6 mẫu vật, thu được tại vùng cửa Ba Lạt, thuộc sông Hồng thuộc huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định, bắc Việt Nam. Lưu giữ tại Bộ sưu tập, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Hà Nội, Việt Nam.
Chẩn loại: Vỏ kích thước nhỏ, dày, chắc, đỉnh hơi tày, tháp ốc ngắn, chỉ bằng 2/5 chiều cao vỏ. Có 4 vòng xoắn, vòng xoắn cuối phình rộng. Vỏ gần hình nón, nhẵn, không có đường, khía. Vỏ có màu trắng đục với ít điểm sắc tố vàng. Lỗ miệng gần bàu dục, hơi tròn, nằm nông. Vành miệng dày, liên tục. Lỗ rốn thành rãnh hẹp, rõ.
Mô tả: ốc có kích thước khá nhỏ so với các loài trong giống, vỏ gần hình nón, vỏ dày, chắc, đỉnh hơi tày. Tháp ốc ngắn, dài bằng 2/5 chiều cao vỏ.
Có 4 vòng xoắn, rãnh xoắn sâu, thấy rõ. Vòng xoắn cuối phình rộng, chiều rộng 0,7-0,8 mm, chiều cao 1,4 mm bằng khoảng 3/5 chiều cao vỏ. Mặt vỏ màu trắng đục với ít điểm sắc tố vàng bẩn, mặt vỏ nhẵn, không có đường, khía.
Lỗ miệng hình trứng, hơi tròn, nằm nông, vành miệng dày, liên tục. Lỗ rốn thành khe sâu, rõ, thẳng ngang. Nắp miệng dày, hình trứng, ít vòng xoắn, nhân lệch tâm.
Kích thước: H: 2,0-2,5 mm; l: 1,1-1,5 mm; V: 1,5-1,9 mm; Lo: 0,35-0,5 mm; lo: 0,5-0,7 mm.
Sinh học, sinh thái: Sống vùi trong bùn, ăn mùn bã hữu cơ mục nát ở các kênh, lạch nước lợ vùng đồng bằng ven biển.
Nhận xét: Loài ốc Stenothyra alba sp. nov. có những đặc điểm hình thái giống với các loài ốc sống ở vùng nước lợ cửa sông như vỏ dày, chắc, vành miệng dày, liên tục. Tuy nhiên, loài mới này có những nét khác hẳn với các loài khác đã biết trong giống Stenothyra nói chung ở Việt Nam, Thái Lan, cũng như ở vùng cửa sông Ba Lạt nói riêng: kích thước nhỏ, vỏ nhẵn, màu trắng đục.

Full Text:

PDF


DOI: https://doi.org/10.15625/0866-7160/v32n3.697

 

                 

Editorial Office:

1st Floor, A16 Building, 18B Hoang Quoc Viet Street, Cau Giay District, Hanoi, Vietnam

Tel: (+84) 24 3791 7101

Email: tapchisinhhoc@vjs.ac.vn